:: Giới thiệu
Quá trình phát triển
Ban giám hiệu trường
Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Chi bộ
Công đoàn
Đoàn TNCS HCM
Chi hội người mù
 :: Hoạt động chuyên môn
Các tổ bộ môn
Hoạt động chuyên môn
Nghiên cứu khoa học
Giáo án điện tử
Bài giảng điện tử
 :: Văn bản liên quan
Kế hoạch chuyên môn
Lịch công tác
Thông báo tuyển sinh
Đăng ký nhập học
Thông báo nội bộ
Thông tin vui
 :: Thư viện sách
Sách giáo khoa
Sách tham khảo
Sách giáo viên
 :: Thư viện hình ảnh
Lễ hội
Hoạt động nâng cao chất lượng GD
Cơ sở vật chất của trường
Các hoạt động khác
 :: Hỗ trợ hòa nhập
Bồi dưỡng
Tập Huấn
Can thiệp
Tư vấn
 Hoạt động chuyên môn > Nghiên cứu khoa học
MỘT SỐ MÔ HÌNH CAN THIỆP SỚM HIỆN NAY TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG (30-06-2014 08:42:18)

MỘT SỐ MÔ HÌNH CAN THIỆP SỚM

HIỆN NAY TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Nguyễn Ngọc Chinh,Đại học Đà Nẵng

Lê Thị Tuyết Mai,Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu Tp Đà Nẵng

1. Mở đầu

Thuật ngữ can thiệp được hiểu là “can dự vào việc của người khác, của tổ chức nhằm đạt được mục đích nào đó” (1); Hoặc can thiệp nghĩa là “can dự vào công việc của người khác, tác động theo một hướng nào đó” (2); Hoặc can thiệp là tham gia vào tình huống theo trật tự nhất định nhằm cải thiện hoặc giúp đỡ (3). Như vậy, có thể nới khái niệm về sự can thiệp đều đồng nhất ở những điểm chung là:

- Có sự can dự vào công việc của một người nào đó;

- Sự can dự vào việc của người này là có mục đích của người tiến hành can thiệp.

Can thiệp sớm (CTS) trẻ khiếm thị là các dịch vụ can thiệp sớm nhất ngay sau khi phát hiện ra khuyết tật cho đến khi trẻ đạt 6 tuổi với sự tham gia của nhiều ngành (Y tế, Giáo dục, Tâm lý, Xã hội…) nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng của khuyết tật để trẻ phát triển tối đa năng lực và tham gia học tập cùng các bạn sáng mắt đúng độ tuổi. Can thiệp sớm trẻ khiếm thị còn bao gồm cả sự tác độngvào gia đình của trẻ khiếm thị và cộng đồng nhằm xây dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển và hòa nhập của trẻ khiếm thị.

Can thiệp sớm giúp trẻ khuyết tật sớm hòa nhập cộng đồng. Can thiệp sớm cho trẻ khiếm thị là chương trình dành cho trẻ khiếm thị được phát hiện tật về mắt trong độ tuổi từ 0 đến 6 nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối đa ở trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục và cuộc sống sau này.

Trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu thành phố Đà Nẵng tiền thân là trường Mù, có nhiệm vụ chăm sóc nuôi dạy trẻ khiếm thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và khu vực miền Trung-Tây Nguyên. Công tác CTS cho trẻ khiếm thị tại trường được bắt đầu từ năm 2000, có thể xem công tác CTS cho trẻ khiếm thị tại trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu là đại diện cho chương trình CTS cho trẻ khiếm thị tại thành phố Đà Nẵng. Trong những năm qua, tình hình thực tế của côngtác CTS cho trẻ khiếm thị tại thành phố Đà Nẵng được tiến hành theo các mô hình như sau: Can thiệp sớm tại gia đình trẻ khiếm thị; Can thiệp sớm tại trường chuyên biệt và can thiệp sớm tại trường Mầm non hòa nhập.

2. Một số mô hình can thiệp sớm trẻ khiếm thị tại TP Đà Nẵng.

Chúng tôi đã khảo sát 41 trường hợp trẻ khiếm thị ở các quậnhuyện TP Đà Nẵng theo 3 mô hình can thiệp sớm hiện đang phổ biến tại thành phố. Do đặc thù của từng mô hình, nên chúng tôi có những thuận lợi và khó khăn nhất định trong việc can thiệp sớm trẻ khiếm thị.

2.1. Can thiệp sớm tại gia đình trẻ khiếm thị.

Độ tuổi CTS tại gia đình thích hợp nhất là từ 0 đến 3 tuổi và trẻ khiếm thị đa tật. CTS tại gia đình được tiến hành với sự tham gia của giáo viên trường chuyên biệt, cha mẹ trẻ khiếm thị và các thanh viên trong gia đình. Giáo viên trường chuyên biệt đến gia đình mỗi tuần 1 lần, hỗ trợ gia đình trẻ những kiến thức về chăm sóc trẻ khiếm thị thông qua tài liệu, tờ rơi, hướng dẫn trực tiếp của giáo viên về các kỹ năng cơ bản như định hướng di chuyển, tự phục vụ bản thân, kỹ năng giao tiếp, vận động tinh, vận động thô… chuẩn bị cho trẻ đến trường. Hiện nay nhà trường đang tiến hành CTS cho 10 trẻ khiếm thị ở rải rác khắp các quận huyện trên địa bàn thành phố.

2.2. Can thiệp sớm tại trường chuyên biệt

CTS tại các trường chuyên biệt có đầy đủ hơn về cơ sở vật chất, trang thiết bị; đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao. Độ tuổi CTS tại trường chuyên biệt thường được tiến hành với trẻ khiếm thị từ 2 đến 6 tuổi. Tại trường chuyên biệt trẻ khiếm thị được:

+ Luyện tập thực hành các kỹ năng đặc thù dành cho trẻ khiếm thị dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sự tham gia của phụ huynh. Phụ huynh đưa trẻ đến trường mỗi tuần 1 lần.

+ Học lớp can thiệp sớm với hình thức bán trú theo chương trình mầm non kết hợp với dự án Oregon (chương trình dành cho trẻ khiếm thị lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo)

+ Từ 5 đến 6 tuổi trẻ khiếm thị sẽ được học lớp dự bị để được luyện kỹ năng với chữ Braille, tạo tiền đề cho việc vào học lớp 1.

+ Phụ huynh còn được tham gia các lớp tập huấn về chương trình CTS do trường phối hợp dự án Ủy ban II Hà Lan, Viện chiến lược và chương trình giáo dục… thực hiện.

2.3. Can thiệp sớm tại trường mầm non hòa nhập.

Tại thành phố Đà Nẵng, dự án “Can thiệp sớm cho trẻ khiếm thị” do Viện chiến lược và chương trình giáo dục phối hợp với Ủy ban II Hà Lan đã tổ chức các lớp bồi dưỡng về nội dung, phương pháp can thiệp sớm cho đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) – giáo viên ngành học mầm non và tiểu học. Thông qua các đợt tập huấn, nhận thức của đội ngũ CBQL và giáo viên được nâng lên đồng thời thu hút càng nhiều trẻ khuyết tật đến lớp hòa nhập.

Độ tuổi CTS tại trường mầm non hòa nhập thích hợp nhất là từ 3 đến 6 tuổi. Trẻ khiếm thị mức độ nhẹ được đi học tại trường mầm non hòa nhập gần nhà tại nơi trẻ sinh sống. Các trường mầm non đã đón nhận trẻ khiếm thị vào học hòa nhập đó là các trường:

- Trường Mầm non Hòa Tiến, Hòa Liên (Hòa Vang)

- Trường Mầm non Mai Nhi (Liên Chiểu)

- Trường Mầm non Ánh Dương (Hải Châu)

- Trường Mầm non Hoa Phong Lan (Ngũ Hành Sơn) và một số nhóm trẻ gia đình trên địa bàn thành phố.

CTS tại trường mầm non hòa nhập được tiến hành với sự tham gia của giáo viên hòa nhập, giáo viên chuyên biệt và phụ huynh.

Trong 3 mô hình CTS trên thì mô hình hòa nhập tại trường mầm non là phổ biến nhất và được phụ huynh ưa chuộng nhất (68,3%). Cả 3 mô hình CTS trên được tiến hành song song dựa vào đặc điểm, khả năng và nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ khiếm thị. Linh hoạt trong cách lựa chọn mô hình CTS nhằm đem lại lợi ích vàhiệu quả cao nhất cho trẻ và gia đình trẻ. Tuy nhiên trong quá trình triển khai mô hình CTS gặp phải một số những khó khăn sau:

+ Một số gia đình quá xa nên việc đi lại gặp khó khăn.

+ Phụ huynh chưa dành thời gian cho trẻ khiếm thị theo yêu cầu của giáo viên.

+ Giáo viên thực hiện công tác CTS còn kiêm nhiệm nhiều công việc khác nên chưa đầu tư thích đáng cho CTS.

+ Chưa xây dựng phòng riêng về CTS đảm bảo cách âm và ánh sáng để thực hiện các bài kiểm tra đạt hiệu quả.

+ Kinh phí cho hoạt động CTS chưa có, nhà trường phải vận động các tổ chức tài trợ nên công tác CTS chưa chủ động.

+ Chưa có sự tham gia của các chuyên gia thuộc lĩnh vực tâm lý, vật lý trị liệu, y tế.

3. Kết luận.

Qua việc đánh giá thực trạng công tác CTS cho trẻ khiếm thị trong độ tuổi từ 0 đến 6 tuổi của một số mô hình chúng ta nhận thấy: Đà Nẵng là một thành phố lớn trong nước, là nơi có điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các dịch vụ chăm sóc-giáo dục trẻ khuyết tật ở thành phố trong đó có trẻ khiếm thị. Là một lĩnh vực còn mới mẻ, nên công tác CTS đối với các mô hình đã và đang đứng trước rất nhiều khó khăn thách thức. Cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc- giáo dục trẻ; đội ngũ giáo viên hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng, chưa có những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực CTS; số lượng trẻ khiếm thị nhiều nhưng đáp ứng nhu cầu cho trẻ và gia đình trẻ còn hạn chế; phụ huynh còn thiếu hiểu biết về kiến thức cũng như phương pháp chăm sóc-giáo dục con em mình; chương trình và tài liệu không có, cách đánh giá chưa rõ ràng.

Với những khó khăn trên, để công tác CTS ở gia đình, các trường mầm non đạt được chất lượng và hiệu quả cần thực hiện đồng bộ rất nhiều những giải pháp khác nhau mới có thể đạt được đúng như tinh thần của Chính phủ đã nêu trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” (10) trong đó có nhấn mạnh phải “Tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật được học tập ở một trong những loại hình lớp hòa nhập, bán hòa nhập hoặc chuyên biệt, đạt tỷ lệ 50% vào năm 2005 và 70 % vào năm 2010”.

-----------------------------------------------

Bài được đăng trên tạp chí Khoa Học và Phát Triển số 145/2009

-----------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

  1. Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB từ điển Bách khoa, H.,2004
  2. Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đạihọc Quốc giá TPHCM-Nguyễn Như Ý chủ biên,HCM,2008
  3. Từ điển Oxford, Oxford University Press, August 2005
  4. Can thiệp sớm – sách hướng dẫn gia đình trẻ khiếm thị của Lựa chọn một chương trình giáo dục cho trẻ của bạn của Tiến sĩ Deborah Chen và thạc sĩ Mary Ellen Mc Cann, Hà Nội 2003
  5. Dự án Oregon-bản kiểm tra kỹ năng của Sharon Anderson-Susan Boigon-CherideWaard, biên dịch Hoàng Thị Nga, Hà Nội 2002
  6. Những bước đầu tiên: Cẩm nang dạy trẻ khiếm thị Trung tâm trẻ mù, Los Angeles, Califonia, biên dịch Hoàng Thị Nga
  7. Trần Thị Thiệp, Can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật, NXB Đh Sư phạm Hà Nội, H.,2005
  8. PGS.TS Lê Thị Ánh Tuyết, Can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, Tài liệu tập huấn 2006
  9. TS. Trịnh Đức Duy, Giáo dục trẻ có tật thị giác tại gia đình, H., 1992
  10. Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ, Báo Giáo dục và Thời đại số 25, ngày 26/2/2002.